Khác Lucky88 đưa tin: Bóng đá đỉnh cao tạm từng: Cơ hội cho những phát kiến mới của các HLV

Thảo luận trong 'Khác' bắt đầu bởi leosama, 26/3/20.

  1. Tỉnh/Thành:

  2. Tình trạng:

  3. Giá bán:

    0 VNĐ
  4. Điện thoại:

    888622188
  5. Địa chỉ:

    Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội (Bản đồ)
  6. Thông tin:

    26/3/20, 0 Trả lời, 12 Đọc
  1. leosama

    leosama Member

    Tham gia:
    15/1/18
    Bài viết:
    145
    Đã được thích:
    0
    Credit:
    $4,057.73
    Marton Bukovi đã thể hiện sự can đảm của mình tại Zagreb trong thời chiến, nhưng ngoài ra, nhà cầm quân người Hungary cũng đã có những suy ngẫm, nghiên cứu lại về khía cạnh chiến thuật bóng đá. Các vị huấn luyện viên trưởng ngày nay cũng nên sử dụng khoảng thời gian tạm dừng này của thế giới bóng đá đỉnh cao một cách hiệu quả.

    Xem thêm: Kèo chấp 3/4 nghĩa là gì? Kèo 0,75 là sao? Kèo 0,5-1 là ntn?

    “Ông đã làm gì trong chiến tranh vậy, Mr Bukovi?”
    “Tôi đã phát minh ra ‘số 9 ảo’. Còn anh đã làm gì?”

    Thật ra thì đó không phải là tất cả những gì mà Marton Bukovi đã làm trong xuyên suốt thế chiến thứ hai. Vào thời điểm những xung đột bắt đầu nổ ra, nhà cầm quân người Hungari – hoàn toàn có thể xem là vị huấn luyện viên bóng đá có bộ óc chiến thuật xuất chúng nhất từng xuất hiện – đang hành nghề ở Zagreb, dẫn dắt Gradjanski.

    Khi Ustashe thâu tóm quyền lực và bắt đầu áp đặt tư tưởng bài Do Thái, vị trí của ông đã bị đặt vào tình trạng vô cùng bấp bênh, vì ông là con của một người cha Do Thái và một người mẹ Công Giáo. Bukovi, sau khi đã phải rất đau đầu với vấn đề tôn giáo, dường như đã đi theo con đường Kitô hữu, và có một cây thánh giá được xây trên bia mộ của ông tại nghĩa trang Rakoskeresztur ở Budapest, nhưng vợ ông, bà Aranka Klein, là một người Do Thái, và ít nhất một trong các chị gái của ông, khi ấy đang hành đạo Do Thái.

    Bukovi không chỉ giữ được công việc của mình, ông còn giúp bảo vệ người trông coi sân bãi của câu lạc bộ, một người tị nạn Do Thái tên là Max Reisfeld, trước đó đã trốn chạy khỏi Đức Quốc Xã, cung cấp đồ ăn và lương thực dự trữ cho gia đình ông ta, khi họ đang phải ẩn nấp dưới một khán đài tại sân vận động. Sau 4 năm phải trốn chui trốn nhủi tại đó, cả gia đình ấy đã không bị phát hiện và có thể sống sót.

    Bukovi rất can đảm và là một người có nguyên tắc vững chắc, ngoài ra, ông cũng khét tiếng là cực kì khó tính. Nhà cầm quân này có những thói quen của riêng mình và hiếm khi nào chấp nhận thay đổi chúng. Ông rất yêu điện ảnh, và sẽ đi xem phim vào mỗi ngày sau khi tập cùng đội, nhưng Bukovi ghét bị phân tâm, nên điều đầu tiên mà ông làm khi đến rạp là hỏi bên phòng vé xem vợ mình có ở đó không, và nếu có, ông sẽ đi đến một rạp chiếu phim khác.

    Bukovi cùng với các cầu thủ của mình năm 1949
    “Ông ấy là một người rất nghiêm khắc,” Marika Lantos, vợ của Mihaly, trợ lý của Bukovi tại Olympiakos, kể lại. “Kỹ tính, nghiêm ngặt, và nhất quán. Ông ấy luôn đòi hỏi sự trật tự và kỷ luật. Không quan trọng gã cầu thủ kia có là ai đi chăng nữa; ông ấy sẽ luôn thẳng thắn nói ra những suy nghĩ của mình về anh ta. Đó có thể là lý do vì sao không có quá nhiều người yêu mến ông ấy.

    "Ông ấy có thể rất kín đáo và cục cằn, nhưng ông ấy thực sự có một trái tim vàng. Ông ấy giống như một bà mẹ chồng xấu tính vậy: Ông ấy chỉ trích mọi thứ và luôn tìm ra những lỗi sai. Ông ấy có ý tốt, nhưng ông ấy không hiểu rằng mình cần phải phân biệt và ứng xử một cách linh hoạt, đa dạng giữa mọi người. Ông ấy chỉ đơn giản là nói thẳng ra những gì mà mình muốn nói.”

    Nhưng rốt cuộc, ông là một thiên tài, mà các thiên tài thì thường được trao cho cái quyền không cần phải luôn tuân theo các kỹ năng, chuẩn mực chung của xã hội. Khi chiến tranh kết thúc ở Nam Tư và những người Cộng Sản lên nắm quyền kiểm soát, tất cả các câu lạc bộ từng chơi cho giải đấu thuộc Phát xít đều bị giải thể, và thậm chí có nhiều trường hợp còn hoàn toàn bị tiêu hủy các tài liệu về việc họ từng tồn tại. Gradjanski, cuối cùng đã tái sinh thành Dinamo và Bukovi đã được thuyết phục trở thành huấn luyện viên trưởng.

    Giai đoạn chuyển hóa ấy đã tạo cho ông thời gian để suy nghĩ. Ông đã giám sát quá trình chuyển đổi từ đội hình 2-3-5 sang W-M tại Gradjanski, nhưng ông tự hỏi, liệu mình có thể tiếp tục đi xa hơn thế không? Chuyện gì sẽ diễn ra nếu ông kéo một tiền đạo trung tâm xuống sâu đến mức anh ta gần như là một tiền vệ, trao cho hai inside forward (hai tiền đạo cánh có xu hướng chơi bó vào trung lộ) sự tự do, và kéo một trong hai wing-half xuống sâu đến mức anh ta sẽ tạo nên những ảnh hưởng như một trung vệ thứ hai, biến 3-2-2-3 của W-M thành một hệ thống rất gần với 4-2-4?

    Và vì vậy, vào năm 1946, trong cuộc chạm trán với Lokomotiva, trận đấu sẽ định đoạt chức vô địch của Zagreb, Bukovi đã đưa giả thuyết trên của ông áp dụng vào thực tiễn.

    Gradjanski đã giành chiến thắng và Bukovi lại một lần nữa chứng minh được tư duy chiến thuật kiệt xuất của mình – nhưng ông không quá vui mừng với thành quả đó. “Dragutin Hripko là người đảm nhận vai trò ấy,” Ông nói. “Cậu ta chơi không tệ, nhưng còn xa mức độ lý tưởng lắm. Là một cầu thủ bóng đá, khả năng của cậu ta chưa bao giờ nằm ở mức ‘tuyệt vời’ cả, nhưng tôi luôn nói về cậu ta mỗi khi được hỏi về chủ đề tiền đạo trung tâm lùi sâu. Cậu ta là con chuột thí nghiệm của tôi … tôi có thể nhớ rất rõ là bọn cầu thủ của Lokomotiva đã bất lực đến thế nào trong việc xử lý cậu ta.”

    Bukovi đã tiếp tục áp dụng hệ thống mới này của mình khi ông quay trở về Budapest, và đến năm 1952, Hungary đã sử dụng nó để giành huy chương vàng tại Olympic, một phần của chuỗi thành tích bất bại kéo dài suốt 4 năm của họ - trong đó có 2 lần đánh bại một đội tuyển Anh đầy hoang mang, bất lực trước thứ chiến thuật này – đã bị chấm dứt bằng thất bại trước đội tuyển Tây Đức trong trận chung kết World Cup năm 1954.

Chia sẻ trang này